Vào dịp năm mới theo phong tục người Việt, thân chúc quí vị tiến tu, tâm bình và nhiều an lạc.
Không biết do đau, thời gian gần đây SC nhận được khá nhiều emails từ một số Phật tử mà sư chưa bao giờ gặp mặt. Lần này Sc quyết định hồi âm vì đọc bài viết nói về sự chia rẽ của giới tu hành trong hàng ngũ Tăng Ni Phật giáo hải ngoại, đây cũng là điều làm Sc rất bận tâm và hơi buồn khi thấy hình như cộng đồng người Việt ở hải ngoại không có sự đoàn kết. Tuy Sc là người "sinh sau đẻ muộn" thuộc lớp hậu sinh, nhưng vì giác ngộ lẽ vô thường trong đời sống khá sớm, nên đã đầu Phật xuất gia và học hỏi, tu tập ở những truyền thống phật giáo khác nhau. Biết rằng "Tất cả chỉ là Một nhưng hiện ra muôn ngàn hình tướng, hợp tan, tan hợp, nhận lấy, bỏ đi, có đó rồi mất đó, yêu đó rồi ghét đó, tôn sùng đó rồi mạt sát đó, trong từng sát-na. Tất cả tưởng chừng như thật nhưng không có gì thật cả. " như cư sĩ Van Binh đã viết, nhưng với tâm thức chưa giác ngộ thì những thị phi thay đổi của danh tướng, địa vị và tình cảm lại thực. Vì nó thực và cảm nhận được nên gây ra nỗi đau trong tâm hồn người đang tu hay chưa tu đến nơi đến chốn.
Những bức xúc của quí vị thực đáng trân trọng và cần được chia sẻ. Là một người tu, Sc cảm ơn quí vị đã chia sẻ những tâm sự rất thực như vậy. Vô thường trong đời sống là thực, khổ đau trong kiếp người cũng là thực,xin đừng nói không khi trí tuệ chưa đạt đến kim cang bát nhã! Vì như vậy chỉ là sự lừa dối lòng mình. Có lẽ giáo lý tánh không đã trở thành vị thuốc quá liều nên hàng ngũ tu hành Phật giáo trong một số truyền thống có danh xưng là Đại thừa nhưng không độ nổi mình, làm sao có thể là cỗ xe lớn cho quần chúng?
Trong tiến trình tu hành phải có tuần tự từ Giới đến Định và Tuệ rồi mới có Giải Thoát. Nếu người tu hành bỏ giới, cũng không tu tập định và tuệ làm sao có giải thoát mà nói không? Vì tâm thiếu tu tập, chưa phát triển nên mới thấy hình tướng muôn hình vạn trạng do tâm điên đảo chạy theo phiền não nghiệp chướng mà ra.
Sc nói như vậy không có ý khinh bỉ ai hết, cho dù người đó là hàng xuất gia hay tại gia cư sĩ hay là ngoại đạo. Trong thâm tâm, Sc rất kính ngưỡng những bậc huynh trưởng dù dòng đời sóng gió tha hương, dù thời cuộc đổi thay trắc trở, quí vị vẫn giữ được đạo tâm, đó là điều đáng quí vô cùng! Thật đáng tán thán là những vị tu sĩ ngày đi làm trả tiền chùa, nhưng thứ Bảy Chủ nhật vẫn mở cửa từ bi chào đón những người con tha hương quay về nẻo giác. Nhưng cũng qua bức tranh đó, SC thấy vì hoàn cảnh kinh tế, xã hội mà quí Thầy cô đã phải làm việc quá nhiều nên hình như không có nhiều thời gian để tu học một cách có hệ thống. Điều này dĩ nhiên tác động lên đời sống tu hành của các vị đó. Đi ra tiếp xúc bon chen với thiên hạ nhiều thì tâm phan duyên, lâu ngày cũng bon chen tỵ hiềm như người đời vậy. Quí vị đó phải bương bả kiếm sống chứ không phải sống trên sự cúng dường của đàn na tín thí như thời Phật còn tại thế, hay như những tu sĩ sống trong các quốc gia mà phật giáo là quốc giáo như Thái lan, Miến điện, Tích lan, do đó họ có thể không cảm thấy trách nhiệm nặng nề của bậc xuất gia là tu giới -định-tuệ để tìm cầu giải thoát, do đó sự chia rẽ, mạnh ai nấy sống là một hệ quả tất yếu thôi. Khi họ lệ thuộc vào hàng taị gia mà khi những người tại gia lại còn nhiều tham sân si, không nhiều tâm kính ngưỡng Tam Bảo, rồi khi thích thì đưa người mình tôn sùng lên mây, khi không thích nữa thì cho xuống địa ngục chơi! Đối xử với Tăng- ni như những đào kép cải lương, thì làm sao quí vị tu sĩ đó dám từ bỏ quyền lực và tiền bạc để trọn tâm tu hành? Đây quả là một vấn nạn cho phật giáo Việt nam.
Sc đã từng sống trong những cộng đồng phật giáo khác nhau, thấy ưu và khuyết điểm của từng nhóm hay hệ phái Phật giáo, suy tư tìm một hướng đi thích hợp cho phật giáo thế kỷ 21, không chỉ riêng cho người Việt mà cho nhân lọai nói chung (hơi Bồ tát một chút, nhưng chỉ là suy tư &nỗ lực cá nhân thôi), thấy rằng người Việt chúng ta nói chung là tốt bụng, dễ hòa đồng, ham học hỏi và chuyên cần, nhưng chưa có cái sâu sắc và tính nguyên tắc có hệ thống trong cư xử cũng như về tổ chức. Nhược điểm này khiến cho cộng đồng người Việt thiếu tin tưởng và đoàn kết, do đó họ không có một cách thức tu tập, tổ chức có tính cộng đồng lớn. So với các cộng đồng Phật giáo các sắc dân khác, cộng đồng tu sĩ và Phật tử Việt nam phức tạp và nhiều chia rẽ hơn. Thật đáng ưu tư.
Sau đây là lời tâm sự giác ngộ của một trưởng lão thời xưa, nhưng thật đáng để chúng ta chiêm nghiệm ngày hôm nay.
634. Tỷ-kheo tánh kiêu ngoa,
Phóng dật, ưa vị ngoài,
Giới, thiền định, trí tuệ,
Không đi đến viên mãn.
635. Việc phải làm, quăng bỏ,
Không phải việc, lại làm,
Kẻ kiêu ngoa phóng dật,
Lậu hoặc được tăng trưởng.
636. Những ai khéo tinh cần,
Thường tu tập niệm thân,
Không phải việc, không làm,
Kiên trì việc nên làm.
Bậc chánh niệm tỉnh giác,
Lậu hoăc đi đến diệt.
637. Trên đường thẳng được thuyết,
Hãy bước, chớ quanh co,
Hãy tự mình trách mình,
Hãy đem Niết-bàn lại,
638. Khi tinh cần nỗ lực,
Căng thẳng, vượt mức độ,
Thế gian, Vô Thượng Sư,
Dùng ví dụ chiếc đàn,
Bậc pháp nhãn, có mắt,
Ngài thuyết pháp cho ta.
639. Ta nghe lời Ngài giảng,
Lạc trú lời giảng dạy,
Bình tĩnh, ta thực hành,
Ðể đạt đích tối thượng,
Ba minh ta đạt được,
Lời Phật dạy làm xong.
640. Ai chuyên nhất xuất ly,
Tâm tư hướng viễn ly,
Ai chuyên nhất vô sân,
Diệt trừ các chấp thủ.
641. Ai chuyên nhất ái diệt,
Tâm tư không si mê,
Thấy sanh khởi các xứ,
Tâm được khéo giải thoát.
642. Vị Tỷ-kheo tâm tịnh,
Ðược giải thoát chơn chánh,
Không chất chứa việc làm,
Ðiều phải làm không có.
643. Như một hòn đá tảng,
Không bị gió lay động,
Cũng vậy toàn bộ phận,
Sắc, vị, thanh, hương, xúc.
644. Pháp ái bất khả ái,
Không động, người như vậy,
Tâm trú, không hệ lụy,
Tùy quán, sự hoại diệt.
Trưởng lão Tăng kệ - chương 13
.
Khi đạt đến như vậy, hãy nói Không (vô tướng giải thoát) và Một (nhất tâm trong đại định).
Trong tâm từ,
SC Pháp Hỷ Dhammananda
